Hợp Hợp đồng buôn bán hàng hóa quốc tế quy định như thế nào?

Thảo luận trong 'Mua bán - Rao vặt khác' bắt đầu bởi HaTT_TT, 7/1/22.

Chia sẻ trang này

  1. HaTT_TT New Member

    Tham gia:
    11/6/20
    Số bài viết:
    5
    Được thích:
    0
    Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa mà trong đó, hàng hóa được mua bán có sự chuyển dịch qua biên giới của một Quốc Gia, vùng lãnh thổ.Bài viết dưới đây sẽ làm rõ những quy định liên quan đến hợp đồng quốc tế.
    1. Hợp đồng quốc tế là gì?
    Những người quốc tịch khác nhau, những người ở các nước khác nhau thường ký những hợp đồng kinh doanh.
    Vậy luật nào được áp dụng?
    Vấn đề này phải được giải quyết theo những nguyên tắc chung của luật quốc tế tư pháp:
    - Về những điều kiện về hình thức thì áp dụng luật của nơi ký hợp đồng.
    - Về năng lực của các bên thì căn cứ vào luật của nước của mỗi bên mà xét.
    - Nếu hợp đồng có hậu quả là những quyền về tài sản thì căn cứ vào luật nơi tọa lạc tài sản đó. .
    - Cuối cùng, đối với những vấn đề về nội dung, đặc biệt là đối với những khó khăn trong viêc thỏa thuận chọn toà án sẽ phân xử vụ tranh chấp. Đó là nguyên tắc tự chủ về ý chí. Nếu họ không ghi thì thẩm phán phải tìm hiểu ý chí của họ về nguyên tắc thì luật áp dụng là luật nơi thi hành hợp đồng, nhưng nếu hợp đồng được thi hành ở nhiều nơi thì căn cứ vào luật của nơi là địa điểm chính thi hành hợp đồng, hoặc căn cứ vào đặc điếm của hợp đồng.
    Thẩm phán có thể xem xét ý chí của các bên qua hợp đồng: quốc tịch của họ, tiếng nước nào được đùng trong hợp đồng, nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng (ví dụ: đối với những cơ sởkinh doanh), hoặc những điều khoản về chọn nơi xét xử.

    XEM THÊM >>> Hợp đồng điện tử theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành

    [​IMG]

    2. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

    Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó các bên kí kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc việc trao đổi ý chí kí kết hợp đồng giữa các bên kí kết được thiết lập ở các nước khác nhau.

    Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa mà trong đó, hàng hóa được mua bán có sự chuyển dịch qua biên giới của một Quốc Gia, vùng lãnh thổ. Biên giới có thể là biên giới lãnh thổ địa lý hoặc biên giới có tính pháp lý nhưng không dịch chuyển về lãnh thổ.
    Theo quy định của Luật Thương mại hiện hành, thì Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
    Cũng theo quy định của Luật Thương mại hiện hành, thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.
    Có những quan điểm cho rằng, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên, người bán và người mua có trụ sở hương mại đặt ở các nước khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, không nhất thiết chủ thể của hợp đồng phải có trụ sở ở các nước khác nhau. Nói cách khác, sự phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán trong nước không nằm ở yếu tố chủ thể mà nằm ở sự dịch chuyển qua biên giới của hàng hóa.

    ĐỪNG BỎ LỠ >>> Có những loại hợp đồng điện tử nào? Các loại Hợp đồng điện tử thông dụng hiện nay

    3. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
    Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được công nhận có hiệu lực nếu nó được thể hiện dưới một hình thức nhất định, phù hợp với quy định của pháp luật áp dụng. Đây là điều kiện bắt buộc nhằm chứng minh sự tồn tại của hợp đồng. Hình thức của hợp đồng được thừa nhận và quy định trong pháp luật của hầu hết các quốc gia. Có hai quan điểm về hình thức của hợp đồng
    - Quan điểm thứ nhất: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được ký kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi hoặc các hình thức gián tiếp như đơn thư chào hàng, đặt hàng, fax, thư điện tử (giao dịch điện tử)… do các bên tự do thỏa thuận. Các nước theo quan điểm này hầu hết là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, như Anh, Pháp, Mỹ… Công ước Viên 1980 của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã xây dựng các quy phạm thực chất thống nhất, về điều kiện này Công ước cho phép các bên có thể xác lập hợp đồng với mọi hình thức, kể cả thông qua người làm chứng.
    - Quan điểm thứ hai: Một số nước lại đưa ra các yêu cầu bắt buộc về hình thức đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mới được công nhận hiệu lực pháp lý. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được ký kết dưới hình thức văn bản, phải được phê chuẩn, hoặc có công chứng… mới có hiệu lực. Đây là quan điểm của một số nước đang phát triển, như Việt Nam. Nếu hợp đồng bắt buộc phải được ký bằng văn bản thì mọi sự thay đổi, bổ sung của nó cũng phải được lập thành văn bản.
    Có pháp luật của một số nước yêu cầu bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản, nhưng pháp luật của một số nước khác lại không có bất kì một yêu cầu nào về hình thức hợp đồng.

    Tuy nhiên, để để đảm bảo sự an toàn pháp lý trong quan hệ hợp đồng cũng như có bằng chứng cứ, chứng cứ để giải quyết tranh chấp trong trường hợp tranh chấp phát sinh và để có sự ràng buộc rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của hai bên thì nên lập hợp đồng bằng văn bản.
     
Đang tải...